Đề Thi Tu Hành Của Đại Lão Hòa Thượng Quảng Khâm - Phần 1


Phật Tử Việt Nam - ...Quá trình tu hành của chúng ta cũng giống như vậy, đọc kinh, tụng niệm khóa lễ thường nhật đã rất cực nhọc, noi theo kinh để thực hành càng khó hơn, thường thường đều thi không đậu, bị té bể đầu chảy máu cũng phải tiếp tục làm theo. ...

Pháp Sư Ðạo Chứng thuyết giảng

Lý Thụy Linh, Lâm Gia Văn, Trần Hoằng Học,

Lâm Thụy Trăn, Ngưỡng Liên Cư Sĩ kính ghi

 

Lời tựa

Lúc còn đi học, học trò thường gọi đùa đề thi cũ của các lớp lớn là ‘đề khảo cổ’. Học sinh nghiên cứu đề thi cũ có thể tìm những điểm trọng yếu của bài thi để những lần thi cử hôm nay và sau này có thể đạt được thành tích ưu tú. Tu hành cũng vậy, trên đường tu tập mỗi ngày đều có đề thi, giờ nào cũng có sự khảo nghiệm. Hành giả nghiên cứu đề thi cũ của những đại đức thuở xưa có thể biết được trọng điểm của sự tu hành, đề cao cảnh giác, đối với sự khảo nghiệm của sanh mạng hiện thời và tương lai luôn có lợi ích.

 

Lý thuyết: Ghi nhớ rõ ràng, nói một, hai, ba

Hiện thực: Máu thịt đầm đìa, thử thách trăm bề.

Trong trường Y Khoa [thầy giáo] dạy chúng ta phương pháp cấp cứu bịnh nhân từng bước: bước thứ nhất làm sao, bước thứ nhì làm sao, bước thứ ba làm như thế nào. Lúc thi viết chỉ cần nhớ thuộc làu bài ghi trong sách thì xong ngay; nhưng tình hình bịnh nhân trên thực tế hoàn toàn khác với sách vở!

Thí dụ lúc trực nửa đêm [trong bịnh viện] có người bị thương vì tai nạn xe cộ, nhìn thấy cả cái chân bị xe cán, da thịt nhày nhụa, máu chảy đầm đìa, lại dính rất nhiều miểng chai; người này biết đau, chảy máu, còn la hét om sòm; anh ta vừa la hét vừa văng tục chửi bác sĩ. Chúng tôi hết lòng muốn cứu anh ấy, không thể nhẹ tay và cũng không thể giận, càng không thể phiền muộn, vẫn phải bình tĩnh sáng suốt làm theo lời dạy trong sách, từng bước, từng bước chăm sóc vết thương. Lúc thi cử, viết câu trả lời trên giấy thì nhanh hơn, lúc thực hành làm theo [sách giáo khoa] thật sự không đơn giản, phải gắp từng miếng miểng chai cho sạch hết, phải ráp xương cho ngay ngắn, phải may vết thương lại đàng hoàng; có khi phải đứng suốt đêm, đứng đến sáng cũng làm chưa xong; phải nhịn đói, chịu mệt, thậm chí không thể đi nhà vệ sinh, quá trình chịu đựng này so với lúc thi viết trong trường học khác xa một trời một vực!

 

Nghiên cứu kinh điển: từ văn giải nghĩa, khổ công trăm bề.

Tu hành: chết đi sống lại, khảo nghiệm khó khăn.

Quá trình tu hành của chúng ta cũng giống như vậy, đọc kinh, tụng niệm khóa lễ thường nhật đã rất cực nhọc, noi theo kinh để thực hành càng khó hơn, thường thường đều thi không đậu, bị té bể đầu chảy máu cũng phải tiếp tục làm theo. Nói chung, những gì trong quá khứ ví như đã chết ngày hôm qua, những gì sau đó ví như sanh ra ngày hôm nay, ngay lúc tà tri tà kiến trong tâm ‘chết’ đi thì chánh tri chánh kiến liền ‘sanh’ ra. Phiền não vọng tưởng tiêu diệt rồi thì pháp thân huệ mạng liền sống lại.

 

Cảm tạ ân đức của sư trưởng [dìu dắt] trên con đường Bồ Ðề.

Trong quá trình tu hành tôi rất may mắn gặp được thầy tốt cũng giống như lúc lâm sàng gặp được giáo sư tốt vậy; họ thường vận dụng cơ duyên để ra đề thi, giúp cho chúng tôi bồi đắp thật lực, lúc gặp cảnh giới cũng dùng kinh nghiệm tu hành của họ và dùng những lời khai thị thích hợp giúp chúng tôi vượt qua khó khăn.

 

Lão hòa thượng Thượng Quảng Hạ Khâm.

Ðề thi không báo trước, phái diễn kịch, thiên tài dạy học

(không thường chú tâm vào Phật đạo, bảo đảm thi rớt te tua.)

Hai vị thầy thế độ cho tôi là hai vị tỳ kheo ni đã từng theo học với lão hòa thượng Thượng Quảng Hạ Khâm gần hai mươi năm. Họ thường nhắc lại những bài thi và những lời khai thị của lão hòa thượng, không những ngài có công phu tu hành cao thâm, nếu nói theo ngôn từ hiện thời thì ngài thật là một thiên tài giáo dục. Ngài ra đề thi không cần suy nghĩ, đều là lúc học sinh chưa chuẩn bị liền ra đề thi bất ngờ, nếu không thường chú tâm vào Phật đạo nhất định sẽ thi rớt te tua... Nếu ngài cho biết trước đương nhiên bạn sẽ đề cao cảnh giác, vấn đề là ngài không cho biết trước, đều là đột nhiên dùng cảnh giới [ngay lúc đó] để khảo sát xem thật lực của bạn khi chưa chuẩn bị ra sao. Tôi thường nghe ân sư kể lại quá trình tu hành của họ nên rất cảm động, đề thi của tôi so với đề thi và cảnh giới của họ thật đơn giản hơn nhiều.

 

Trong đời sống thực tế có phát hiện ra là chúng ta đang thi bài ‘thị phi’ (đúng sai) không?

Nếu trong trường học chúng ta đang thi đề ‘thị phi’ (trắc nghiệm đúng sai), trong đề thi thầy giáo sẽ ghi: ‘Lúc qua ngã tư thấy đèn đỏ thì chạy qua, thấy đèn xanh thì dừng lại’; bạn tự nhiên biết phải gạch chữ X (sai), biết thầy giáo đang thử xem bạn biết luật lệ giao thông hay không? Nhưng trong đời sống thường ngày, nếu có người cố ý uốn cong hoặc làm sai sự thật, chúng ta có phát hiện đây là dịp cho bạn khảo đề ‘thị phi’ không? Chúng ta có thể bình tĩnh như lúc gạch trên bài thi viết, trả lời rõ ràng, lập thành tích không? Nếu trong đời sống chúng ta không phát hiện rằng mình đang bị khảo nghiệm, có thể chúng ta sẽ rất áo não âu sầu, chỗ nào cũng cảm thấy không hợp lý, rất tức giận, nhẫn nại không được, như vậy là thi rớt rồi.

 

Trong ‘Tuyển Phật Trường’, mỗi người nộp thành tích biểu của mình.

Các lần thi cử trong đời chúng ta mỗi người tự trình bày thành tích của mình. Cùng một câu hỏi của thầy giáo, câu trả lời của mỗi học sinh đều khác nhau, thành tích biểu của mỗi người sẽ khác nhau. Thí dụ bà má chồng mắng đám con dâu, sau khi nghe xong mỗi đứa con dâu suy nghĩ khác nhau, vì thế mỗi người trả lời khác nhau, lập thành tích khác nhau. Má chồng có thành tích của má chồng, con dâu có thành tích của con dâu; nội dung của đề thi không có gì là tốt hay xấu, nhưng tâm trạng của mỗi người chuẩn bị đi thi không giống nhau, câu trả lời của mỗi người sẽ có trình độ khác nhau. Thế gian này là một ‘Tuyển Phật Trường’ (nơi tuyển chọn người thành Phật), những chuyện lớn nhỏ thường ngày là những cuộc thi lớn nhỏ để tuyển chọn, người nào trúng tuyển thì sẽ vãng sanh về Tây phương thành Phật.

 

Bài thi buổi sáng tùy cơ [duyên]

(là những chuyện làm bình thường nhưng đều bất ngờ, vượt ra ngoài dự tính)

 

Ai siêng năng nhất ? (Vừa nói vài câu như vậy thì động tâm rồi. Ái chà! công phu còn non quá!)

Ân sư kể lại rằng mỗi ngày khoảng chừng sáu giờ sáng lão hòa thượng thường đi tới, đi lui trong chùa, ngài âm thầm quan sát xem người nào lạy Phật và niệm Phật siêng năng, thức dậy sớm nhất. Ngài bèn kêu người đó lại, chưa nói năng gì hết liền mắng người đó một trận, thậm chí nói những chuyện rất oan cho người đó. Tài nghệ ‘diễn kịch’ của lão hòa thượng rất khéo léo, nếu người đệ tử nghe ‘mắng’ xong rồi động tâm và phát giận lên, lão hòa thượng bèn lắc đầu, cười và nói:

‘Thầy tưởng con siêng năng tu tập, vừa nói vài câu như vậy liền chịu không nổi. Ái chà! công phu còn non quá!’

 

Nếu không biết đây là đề thi, tức là ‘không giác’! (không có học Phật!)

Nếu lão hòa thượng không nói câu cuối này có lẽ người đệ tử bị mắng sẽ không biết đây là một sự khảo nghiệm; vì không nhận ra đây là khảo nghiệm, không biết lão hòa thượng làm như vậy vốn là để xem chúng ta trả lời như thế nào. Không biết lão hòa thượng muốn xem chúng ta thể hội và thực hành Phật pháp như thế nào, cố ý tạo ra những tình cảnh như vậy, vì đều không biết nên gọi là ‘không giác’. Thường không có tâm tỉnh giác tức là vô minh, hồ đồ. Phật là người giác ngộ, chúng ta thường không tỉnh giác tức là không học Phật; A Di Ðà Phật là ‘Vô Lượng Giác’, chúng ta thường không giác tức là không niệm Phật. Tuy sáng sớm đã thức dậy tụng niệm khóa lễ buổi sáng, tụng hoài đi nữa cũng là ‘không giác’. Như vậy thì uổng phí công phu, cũng như rất siêng học nhưng tới lúc đi thi lại không đủ điểm!

 

Khi nghe kể chuyện phải biết lấy ra mà áp dụng (tiêu quy tự tánh)

Có một cư sĩ nghe xong rất hoan hỷ và nói: ‘Vậy thì tôi biết rồi! Mỗi buổi sáng chồng tôi thức dậy liền tuỳ tiện mắng tôi, chửi đông chửi tây, nói [những lời] rất oan ức cho tôi; tôi thường than trách không biết đời trước thiếu ông ấy bao nhiêu ‘nợ chửi’? Bây giờ tôi biết rồi, tôi cứ xem ông ấy là lão hòa thượng Quảng Khâm, buổi sáng đi tuần, ra đề thi cho tôi, thế thì tôi rất thoải mái. [Lần nào] tôi cũng thi đậu hết, vui mừng lên đường đi Tây phương’!

Vị cư sĩ này thiệt rất có trí huệ, nghe kể chuyện xong liền có thể áp dụng cho mình, quay về với tự tánh; tôi biết nói nhưng cũng không bằng bà biết nghe. Người biết dùng đề thi cũ nhất định sẽ có thành tích ưu tú!

 

Ứng dụng đề mục trong kinh Kim Cang: ‘Chấp tướng? Ðộng tâm?

Có lẽ mới sáng sớm chúng ta đã đọc kinh Kim Cang: ‘Phàm những gì có tướng đều là hư vọng’, ‘không chấp vào tướng, như như bất động’. Lời trong kinh thì đọc theo như vậy nhưng nếu có người lộ vẻ hung dữ mắng chúng ta, nội dung lời mắng rất oan ức, chúng ta liền tạm thời gác kinh Kim Cang qua một bên, cho rằng cảnh giới [bị mắng] này là thiệt, bắt đầu đau lòng, cảm thấy oan ức, quên ráo trọi ‘phàm những gì có tướng đều là hư vọng’, bắt đầu đi theo ‘tướng hư vọng’ này, không những chấp tướng mà còn động tâm, không những động tâm mà còn đau lòng, một tí gì cũng không biết ‘như như bất động’. Cho nên đọc kinh hết mấy chục năm nhưng vừa đụng chuyện, vừa gặp đề thi thực dụng thì quên hết trơn. Nếu người ta nói mình học Phật là gạt người, đều không thiệt tâm học, chúng ta nghe xong rất không phục. Thế nhưng vừa gặp đề thi thì tự khai ra hết, biểu hiện những gì đức Phật dạy, một chút gì chúng ta cũng không học được. Cái gì gọi là ‘Nhẫn nhục ba la mật’ hãy gạt qua một bên, để mình biện luận cho rõ trước, để mình khóc trước rồi tính sau!

 

Ba la mật (1) cái gì?! Dính tay dính chân, tức mình quá chừng!

Có một vị cư sĩ rất thú vị, anh ấy kể cho tôi nghe kinh nghiệm lần đầu tiên ăn mít [ướt] làm cho tôi rất tức cười. Anh nói anh lên núi làm việc, nghe người ta nói mít ngon lắm, một trái một ngàn đồng nên anh mua một trái ăn thử. Anh nghe mít rất dính tay, phải thoa dầu. Anh không biết phải thoa dầu lên dao trước rồi dùng dao này cắt mít thì mủ không dính dao. Anh không biết nên lấy dao cắt mít liền, cắt đến đâu dính đến đó, dính đầy tay đầy mình hết, rửa không ra. Anh ấy nói: ‘Dính tay dính chân, tức mình quá! Nếu không tốn nhiều tiền để mua ăn thử thì tôi liệng thùng rác cho rồi, khỏi tốn công!’ Anh cứ nghĩ rằng đến lúc ăn, thoa dầu lên mít rồi mới ăn, rốt cuộc mít thoa dầu khó ăn quá.

Phải thoa dầu lên dao chứ không phải thoa dầu lên mít!

Quá trình ăn mít rất giống với quá trình tu hành của chúng ta, cốt ý thoa dầu lên dao là để cho dao không dính [mủ mít]. Chúng ta không biết phải thoa dầu lên dao tức là không biết ‘trí huệ là không chấp trước’. Mọi việc gì cũng chấp trước nên dính mủ đầy tay, đầy chân, tức mình quá chừng, ‘ba la mật’ cái gì, thiệt là muốn liệng đi! Việc thoa dầu để dao không dính mủ này ví như dạy chúng ta trí huệ không chấp trước, mỗi cây dao đều cần như vậy chứ không phải thoa dầu lên mít để ăn. Ý này nghĩa là [ở bất cứ] nơi nào trong đời sống chúng ta đều phải có trí huệ, chứ không phải đem trí huệ làm đồ trang sức.

 

Làm việc là đề thi mà trong đó mượn cảnh giới để luyện tâm.

 

Ðề thi lúc bình thường (có làm dáng bên ngoài không?)

Mỗi lần lão hòa thượng ra đề thi đều là thiên biến vạn hóa, thầy tôi kể lại, lúc đó chùa Thừa Thiên xây trên núi cao, công trình xây cất gặp rất nhiều khó khăn, mọi người phải chở đất, khiêng gạch, thậm chí phải làm đến khi toàn thân ướt đẫm nước bùn. Lão hòa thượng khuyến khích đại chúng phải vừa làm việc vừa niệm Phật, luyện tập niệm Phật trong động. Một hôm có rất nhiều pháp sư, đại đức đến viếng thăm, lão hòa thượng kêu người đến công trường gọi thầy tôi về để thông dịch. Lúc thầy tôi vừa bước vào phòng phương trượng, lão hòa thượng liền nói với các vị pháp sư:

“Quý vị xem kìa, cả chùa Thừa Thiên chúng tôi chỉ có người này hay làm dáng bên ngoài nhất! Quý vị xem, cô ấy làm bùn dính cả người để cho mọi người biết cô làm việc rất siêng năng, rất cực khổ!”

Mọi người nghe lão hòa thượng nói như vậy, có thể nói ai cũng tin hết. Có người trong nhóm pháp sư đến thăm nghe vậy liền nói với thầy tôi:

“A! Lão hòa thượng nói cô đều làm dáng bên ngoài (làm việc chỉ chú trọng bề ngoài), như vậy không tốt đâu!”

Thầy tôi nghe xong liền quỳ xuống nói với mọi người:

“Dạ, đệ tử đều làm dáng bên ngoài không hà, đệ tử sẽ sám hối, sửa đổi”.

 

Biết được: đây là lúc thi cử! Dùng lý trí để trả lời.

Sau khi nghe thầy kể lại tôi liền khóc, trong lòng rất cảm động. Tôi tự phản tỉnh, nếu lão hòa thượng nói mình như vậy trước một đám đông các vị trưởng lão pháp sư, tôi nghe rồi liền nghĩ là thật, sẽ cảm thấy rất đau khổ. Nhưng thầy tôi có tính giác, lúc nào cũng biết được đây là bài thi. Giống như lúc thi trắc nghiệm, thầy rất bình tĩnh, y theo câu hỏi để trả lời, nộp bài thi.

Nếu chúng ta không biết đây là lúc thi cử thì vẫn y theo tập tục thói quen của mình, đem nộp bài thi viết nghuệch ngoạc, bôi sửa tùm lum. Bài thi này trong Tuyển Phật Trường sẽ được mấy điểm vậy?

 

Bị mắng không nhận chịu. Chưa đánh đã tự khai.

Trong tâm không tu [dưỡng], đúng là chỉ làm dáng bề ngoài!

Chúng ta thử nghĩ xem nếu giữa đám đông có người mắng chúng ta chỉ biết làm dáng bề ngoài, nghe xong chúng ta liền không phục, đây cũng giống như chưa đánh đã tự khai, vì vừa sanh tâm giận lên liền biểu hiện nội tâm không có quán chiếu. Người ta vừa nói một câu, mình liền sanh phiền não thì chứng minh trong tâm chúng ta chẳng dụng công tu hành, những gì đã làm chỉ là phô trương bên ngoài mà thôi. Công việc vốn là cơ hội cho chúng ta mượn cảnh giới để luyện tâm, nếu chúng ta không hiểu đạo lý này, không lợi dụng các cảnh giới trong công việc để khuất phục phiền não tham, sân, si, mạn của mình, như vậy tất cả những công việc đã làm đích thật chỉ là phô trương bên ngoài, không có công đức chân thật chi cả.

 

Ngài đánh giá đúng rồi! Ðúng là chỉ phô trương bên ngoài!

Bị phê bình, không vừa ý! Lộ ra tâm niệm ẩn tàng.

--Xen tạp tâm mong cầu khẳng định -- (nội tâm không thanh tịnh)

Nếu người ta phê bình không tốt thì chúng ta không vui, như vậy nói rõ động cơ làm việc của chúng ta vẫn còn xen lẫn những ý niệm muốn người khác khen thưởng, tán đồng, như vậy tức là nội tâm không thanh tịnh. Nếu nội tâm không thanh tịnh, không kể công việc quy mô bao lớn thì cũng là phô trương bên ngoài mà thôi. Những gì lão hòa thượng nói đều là lời cảnh tỉnh rất tốt, nhắc nhở chúng ta phải nghĩ xem mình có thật sự làm công phu nội tâm hay không. Nếu thật tâm tu hành, trong tâm có quán chiếu, thì sẽ không vì người khác nói mình phô trương bên ngoài liền sanh phiền não. Nếu nội tâm giận lên thì đích thật chỉ làm công tác phô trương bên ngoài, người khác phê bình cũng rất chính xác.

 

Ðề thi lúc nửa đêm mệt đừ.

 

Cho bài thi ‘không đúng lúc gì hết!’ (Tức là ‘vừa đúng lúc’.)

Lúc thân xác mệt đừ mà cứ cho thi ‘chọn đinh sắt’

Muốn chọn, không muốn chọn, đều là việc của bạn!

Thầy tôi kể lại lúc xây chùa Thừa Thiên, ai cũng góp sức [vào công tác này]. Một hôm, sau khi làm việc suốt ngày đến nửa đêm ai cũng mệt đừ, lão hòa thượng lấy một hộp đinh đã phân loại xong, rồi đem đinh trong đó [đổ ra và] trộn lẫn vào nhau, sau đó kêu mọi người đem đinh này phân loại lớn nhỏ trở lại. Thầy tôi kể lại lúc đó thầy khởi lên một tâm niệm:

‘Úi chà! Lão hòa thượng ơi, tại sao ngài lại chọn ngay đúng lúc tụi con đang mệt đừ như vầy mà kêu chúng con đi phân loại đinh?’

Lão hòa thượng nghiêm nét mặt lại và nói: “Không lẽ lúc lâm chung còn để cho các cô lựa chọn thời giờ hay sao?”.

Thầy tôi hiểu được ý của lão hòa thượng, lập tức quỳ xuống và đáp: “Ðệ tử đi làm ngay bây giờ”.

Sau đó thầy rán chấn tỉnh tinh thần, tự khích lệ mình rồi chọn đinh một phân, hai phân, và phân loại lớn nhỏ ra. Làm đến quá khuya mới xong, rồi đi trình với lão hòa thượng: “Ðệ tử đã phân loại xong”.

Lão hòa thượng nói: “Muốn chọn là việc của cô; không muốn chọn cũng là việc của cô!”.

 

Khổ, đau, mệt, già … đều phải chánh niệm phân minh (rõ ràng)

Lâm chung tức là ngày [mà mình] già nhất, mệt nhất.

Lúc lâm chung chúng ta không có biện pháp gì để lựa chọn thời điểm nào cho thoải mái, khoẻ khoắn một chút, không kể 30 tuổi hoặc 80 tuổi mới chết, lúc đó đều là ngày [mà mình] già nhất và mệt nhất. Vì vậy nên lúc bình thường phải nỗ lực luyện tập, không kể đau khổ mệt nhọc như thế nào, đều phải ‘chánh niệm phân minh’ (rõ ràng).

 

Làm việc là mượn công việc để luyện tâm, khuất phục vọng niệm, phiền não ngã chấp.

Chúng ta nên biết lão hòa thượng cả đêm đều tĩnh tọa ngoài trời, bản thân ngài không cần phải xây chùa chiền gì cả. Có thể nói ngài lấy việc xây chùa làm công cụ dạy học, làm phương tiện để rèn luyện cho các đệ tử.

 

Phụ chú:

Xin đặc biệt chú ý việc xây chùa kể trên là sự thị hiện của lão hòa thượng đại Bồ Tát, vì căn cơ đặc biệt nên dùng phương pháp đặc biệt, không thể làm khuôn mẫu cho người khác học theo. Vì nói chung, y theo giới luật và kinh Di Giáo thì không thể lấy lý do duy trì sự sống và kiếm lợi cho mình mà sai khiến, ép buộc người xuất gia đi làm việc xây nhà, đào đất, cưa cây và các chuyện mậu dịch, mua bán khác. Vào đời Ðường vì Ðạo Xước đại sư đã làm những việc kể sau đây nên gây chướng ngại cho việc vãng sanh:

1. Từng để tượng Phật ở mái hiên ngoài cửa sổ, tự mình ở chỗ tốt hơn trong phòng (phải hướng về thập phương Phật cầu sám hối) (trọng mình (tự ngã), khinh mạn Phật)

2. Sai khiến người xuất gia (phải hướng về thập phương Tăng cầu sám hối) (bất kính Tăng bảo).

3. Xây dựng nhà cửa, làm tổn hại mạng sống của côn trùng (phải hướng về thập phương chúng sanh cầu sám hối) (trọng tự lợi, coi thường mạng sống của kẻ khác)

Vì ba tội kể trên trái ngược với Bồ Ðề tâm nên đã gây chướng ngại cho việc vãng sanh Tây Phương. May mắn nhờ Thiện Ðạo đại sư nhập định quán sát biết được rồi khuyên [Ðạo Xước đại sư] sám hối đúng như pháp. Ðạo Xước đại sư nghe theo lời khuyên, tự mình phản tỉnh quả thật đã có làm những việc như trên, nên một lòng dọn sạch tâm phát lồ sám hối. (Lúc bấy giờ Ðạo Xước đại sư đã 80 tuổi, Thiện Ðạo đại sư mới 29 tuổi) Sau khi sám hối thấy được bạch quang chiếu sáng và thấy tướng lành Hóa Phật, Bồ Tát hiện ở không trung, diệt sạch tội mới có thể vãng sanh một cách thuận lợi. Thế mới biết sai khiến người xuất gia xây chùa không phải là việc mà phàm phu chúng ta có thể làm càn, làm bừa. Bậc hiền đức như Ðạo Xước đại sư không cẩn thận còn phạm lỗi nên gây chướng ngại cho mình, phải thật lòng sám hối, huồng hồ là phàm phu chúng ta!

Sau khi nghe kể chuyện hoặc xem ‘đề thi cũ’ chúng ta phải tìm ý chính để học hỏi, không nên học sai phương hướng. Thí dụ nếu không biết dùng dao, tay cầm lưỡi dao rồi cắt đồ vật bằng cán dao thì nhất định sẽ hại mình và không làm lợi cho người. Trọng điểm của đề thi cũ ở trên là để dạy chúng ta không kể làm việc gì cũng nên mượn công việc để luyện tâm, đề khởi chánh niệm, buông bỏ ngã chấp, dẹp trừ năm thứ rác rến: tham, sân, si, mạn, nghi. Chứ không phải dạy chúng ta đi xây chùa chiền hoặc làm một việc gì đó, càng không phải để khuyến khích đại chúng dùng việc xây chùa để rèn luyện đệ tử, xin mọi người đừng hiểu lầm. Vì có thể giúp chúng ta thành Phật hay đọa lạc đều do cách ‘dụng tâm’ của chúng ta chứ không phải làm ‘sự nghiệp’ gì cả. Thế nên điểm chánh yếu của việc tu hành cũng chỉ là việc luyện tâm, thanh lọc tâm cho thanh tịnh. Từ việc khéo dùng tâm, khéo điều phục tâm, xả tâm vọng tưởng, chấp trước, hướng về chân tâm (tâm Phật), khai mở Phật tánh, mới có thể phát huy cái diệu dụng của ‘tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch’, thành tựu tất cả công việc độ hóa chúng sanh.

Nếu lầm lẫn và đặt tiêu điểm nơi ‘sự’, hoặc trên ‘cảm giác thành tựu’ của mình (tăng thêm ngã chấp) mà không đặt trên sự thanh lọc tâm cho thanh tịnh, xả vọng quy chánh thì sẽ biến thành pháp hữu vi của thế tục, làm nô lệ cho sự tướng huyễn hóa, cùng lắm cũng chỉ đạt được phước báo hữu lậu của thế gian, không thể đạt được lợi ích thâm diệu xuất thế gian. Nếu khi làm việc trong tâm lại xen tạp năm thứ rác rến (tham, sân, si, mạn, nghi) thì phước báo mà mình tu được chỉ có thể thọ hưởng trong ba đường ác. Thế nên phải chú ý sự ‘dụng tâm’ mới không đến nỗi bận hết cả đời chỉ để vào tam ác đạo hưởng một chút phước mà thôi.

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Sư Kiện Phật Giáo

16939270164793237158





 

Vẻ Đẹp Người Xuất Gia Phật Tử Ngày Nay Nghiên Cứu Du Lịch- Hành Hương
Tâm Linh- Huyền Bí  Giải Trí Phật Giáo